Nguyễn Văn Hưởng: Thượng tướng - Phái viên tư vấn cho Thủ tướng Chính phủ, Website thông tin về Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng. Tiểu sử, hoạt động và ý kiến của Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng trong nước và ở nước ngoài nước ngoài8trên10692
Nguyễn Văn Hưởng » Hoạt động » Thứ trưởng Nguyễn Văn Hưởng thảo luận và làm rõ các văn kiện quan trọng của Đảng

(Hoạt động) - Trong ngày làm việc thứ 2 (13/1), Đại hội tiến hành thảo luận cho ý kiến vào các dự thảo văn kiện trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, gồm: Dự thảo Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011); Chiến lược phát triển kinh tế- xã hội 2011-2020; Báo cáo chính trị Đại hội XI của Đảng; Báo cáo một số vấn đề bổ sung, sửa đổi Điều lệ Đảng và dự thảo Điều lệ Đảng (bổ sung, sửa đổi); Báo cáo kiểm điểm sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương khóa X.

Với các tham luận trên nhiều lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa, môi trường, phiên làm việc buổi chiều 13/1, Đại hội đã nghe các ý kiến phân tích, đóng góp, bổ sung quan trọng vào các văn kiện của Đảng.

nguyen-van-huong-dai-bieu

Thứ trưởng Thường trực Nguyễn Khánh Toàn, Thứ trưởng Nguyễn Văn Hưởng, Thứ trưởng Trần Đại Quang và các đại biểu dự Đại hội.

Mở đầu phiên thảo luận buổi chiều, Giáo sư Tạ Ngọc Tấn, Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản khẳng định: Kiên định và vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác – Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh trong thời kỳ quá độ lên CNXH là vấn đề mang tính cốt lõi. Thực tiễn những năm qua là minh chứng không thể tranh cãi cho tính khoa học và sức sống mãnh liệt của Chủ nghĩa Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh. Giáo sư viện dẫn, trong bối cảnh hiện nay, không ít các nhà tư tưởng tư sản đã phải trở lại với Chủ nghĩa Mác-Lênin và nhận thấy sức sống thời sự của nó. Nhờ nắm vững và vận dụng sáng tạo mà Đảng Cộng sản Việt Nam đã dẫn dắt nhân dân ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Trong giai đoạn cách mạng mới, việc kiên định và vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh sẽ là nền tảng của mọi thành công.

Trong khó khăn, nảy sinh những kinh nghiệm quý

Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Võ Hồng Phúc điểm lại Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 10 năm qua: tốc độ phát triển trung bình là 7,2%, tổng thu nhập đến nay đạt hơn 1.100 USD/đầu người, GDP đã vượt 100 tỉ USD, đó là thành tựu mà cả thế giới đã thừa nhận, bạn bè quốc tế đánh giá cao. Bộ trưởng nêu 4 bài học, trong đó có 2 bài học, theo đại biểu có thể nghiên cứu sâu thêm. Thứ nhất, bài học khơi dậy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, kết hợp sức mạnh của dân tộc và sức mạnh thời đại; huy động mọi nguồn lực. Thứ hai, bài học về nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước. Khó khăn năm 2008 là một thử thách lớn, chúng ta đưa ra chính sách mới là kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và đã thể hiện chính sách kịp thời, việc triển khai thực hiện đồng bộ hiệu quả đã giúp nước ta dần ra khỏi tình trạng khó khăn. Bài học kinh nghiệm ở đây là sự thống nhất về tư tưởng chỉ đạo cũng như trong hành động.

Bộ trưởng đề cập việc thực hiện Nghị quyết Đại hội XI tới đây và cho rằng sẽ có nhiều khó khăn hơn so với giai đoạn trước. Bởi trước đây, chúng ta có đà tăng trưởng cao, lạm phát cũng không cao, một số nguồn lực khá còn hiện tăng trưởng tuy có cao nhưng lạm phát cũng cao, tới 11,75%. Các chỉ số vĩ mô không tốt bằng khi thực hiện Nghị quyết Đại hội X. “Tuy nhiên, tôi nghĩ với sự thống nhất trong toàn Đảng, sự điều hành hiệu quả của Chính phủ, chúng ta sẽ vượt qua khó khăn, đạt kết quả tích cực. Tôi cũng đề nghị mỗi đồng chí và cả bản thân tôi, còn thời gian phục vụ thì còn cố gắng cống hiến hết mình cho sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước” – đại biểu khẳng định.

Giai đoạn phát triển kinh tế từ chiều rộng sang chiều sâu

Đại biểu Vũ Hồng Khanh, Phó Chủ tịch UBND Hà Nội với tham luận tiêu đề “Đẩy mạnh phát triển kinh tế tri thức, đưa nước ta phát triển nhanh, bền vững”. Theo đại biểu, điểm nhấn đặc biệt quan trọng trong chiến lược 2011 – 2020 là việc khẳng định thay đổi mô hình tăng trưởng từ chiều rộng sang chiều sâu. Đó là tư duy cách mạng, dám nhìn thẳng sự thật, nắm bắt xu thế, yêu cầu phát triển. Trong sự khẳng định đó, cho thấy rõ bản lĩnh cách mạng, năng lực lãnh đạo của Đảng. Có hai lý do cho khẳng định này, đó là việc thay đổi mô hình tăng trưởng hợp xu thế thời đại, trào lưu phát triển thế giới. Hai là sự thay đổi xuất phát từ nhu cầu nội tại từ chính nước ta, khi mà động lực mang lại thành công nay không đảm bảo, khi mà sự cạnh tranh toàn cầu hóa ngày càng khốc liệt hơn. Chúng ta chuyển sang giai đoạn mới mang lại tư duy mới, tận dụng cơ hội rõ nét mà thời đại tạo ra để nước đi sau như Việt Nam vượt lên.

Ông dẫn giải: Cách đây 10 năm, lần đầu tiên Đảng ta đưa luận điểm quan trọng là kinh tế tri thức, với nhận thức là nhân tố trong CNH, HĐH đất nước vào văn kiện Đảng. Nhìn lại cho thấy tầm nhìn xa, sự nhạy bén trong tư duy của Đảng ta. Nay, mô hình kinh tế về chiều rộng đang áp dụng bộc lộ những bất cập khi bối cảnh đang thay đổi, nếu tiếp tục mô hình, chúng ta phải trả giá đắt, không cho phép ta thành công, nguy cơ tụt hậu càng rõ hơn. Vì thế, quan điểm phát triển bền vững theo chiều sâu là yêu cầu nhất quán. Trong tầm nhìn dài hạn, việc thay đổi mô hình tăng trưởng thực hiện phát triển bền vững, áp dụng công nghệ hiện đại. Việt Nam có đủ năng lực và điều kiện để thực hiện phát triển kinh tế tri thức. Nếu mạnh dạn, có quyết tâm, chắc chắn chúng ta sẽ thành công, nhất là khi ta có kinh nghiệm của những nước đi trước như Nhật Bản, Hàn Quốc…

Trong khuôn khổ chiến lược chung, cần có những chiến lược cụ thể. Đại biểu đề xuất những giải pháp như: Khẩn trương xây dựng chương trình phát triển kinh tế tri thức mang tầm quốc gia, coi là trục phát triển kinh tế – xã hội. Ưu tiên xây dựng trung tâm công nghệ cao, là đầu tàu phát triển công nghệ. Phát triển các khu công nghiệp cao ở các vùng, thay thế các khu công nghiệp kiểu cũ. Coi trọng phát triển khoa học, công nghệ với sự dẫn dắt, giúp đỡ của thị trường. Nhà nước thực sự đóng vai trò bà đỡ, tạo khuôn khổ pháp lý. Thực hiện chiến lược phát triển khoa học, trên nền tảng đó tạo ra các yếu tố nội sinh. Cần thu hút các tập đoàn xuyên quốc gia, khuyến khích xây dựng các trung tâm nghiên cứu phát triển…

Tăng cường sự đồng thuận xã hội

Bàn về chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc, Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam Huỳnh Đảm tái khẳng định ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác này: Đại đoàn kết là truyền thống dân tộc, là bài học lớn trong sự nghiệp cách mạng, là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam, là nhân tố có ý nghĩa quyết định đảm bảo sự thắng lợi bền vững. Trong giai đoạn mới, Đảng cần quan tâm nâng cao nhận thức về sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, bởi nhận thức về vấn đề này của một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa tốt. Cụ thể hóa, thể chế hóa thành chính sách, pháp luật về đại đoàn kết toàn dân tộc, về Mặt trận Tổ quốc. Tăng cường lãnh đạo cơ quan Nhà nước, tăng cường sự đồng thuận xã hội, xử lý nghiêm những biểu hiện lợi dụng dân chủ vi phạm pháp luật, gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc.

“Chỉ mở rộng dân chủ thật sự mới có sự đoàn kết thật sự, muốn vậy cần thực hiện tốt đoàn kết trong Đảng, rồi đoàn kết toàn xã hội. Thực hiện nguyên tắc hiệp thương dân chủ trong Đảng, trong xã hội. Sớm thể chế hóa, cụ thể hóa để các đoàn thể nhân dân thực hiện vai trò giám sát, phản biện xã hội” – đại biểu đề nghị.

Kinh nghiệm từ đầu tàu kinh tế TP HCM

Đại biểu Nguyễn Văn Đua, Phó Bí thư Thường trực Thành ủy TP HCM viện dẫn những thành tựu đạt được của thành phố trong 10 năm qua xuất phát từ đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế. Theo đó, kinh tế tại TP HCM 10 năm qua tăng trưởng bình quân 10,5%/năm, đưa mức tăng gấp 8 lần so với năm 1994. Trong 5 năm qua, tuy ảnh hưởng suy thoái kinh tế, song TP HCM tăng trưởng bình quân 11%/năm. Tuy nhiên, TP HCM đang đối mặt nhiều thách thức, đó là năng lực cạnh tranh không cao, sức cạnh tranh nhiều sản phẩm yếu. Có những hạn chế do chính sách kinh tế vĩ mô, nhất là chính sách định hướng cho doanh nghiệp. Đồng chí đề nghị chính sách mạnh mẽ, hiệu quả để chuyển dịch cơ cấu kinh tế, trọng tâm là cơ cấu lại các ngành, dịch vụ. Các văn kiện Đại hội XI đề ra 3 đột phá chiến lược về kinh tế thị trường định hướng XHCN.

Từ thực tiễn tại TP HCM, đại biểu đề xuất 5 vấn đề. Đáng chú ý là đổi mới tư duy, thông qua quy hoạch, kế hoạch phù hợp, xác định rõ nội dung, nguồn lực tương ứng, định hướng thị trường phát triển. Nhiệm vụ quan trọng là dự báo nhân tố ảnh hưởng sự phát triển. Tập trung chỉ tiêu bền vững như an sinh xã hội, môi trường vì chỉ tiêu này mới là mục tiêu phát triển. Sử dụng hiệu quả công cụ kinh tế tài chính, phục vụ tái cấu trúc nền kinh tế, đặc biệt chính sách tín dụng, thuế, đầu tư công… Thúc đẩy doanh nghiệp tăng tỷ lệ nội địa hóa, chuyển từ gia công sang công nghệ hiện đại. Chuyển cơ cấu kinh tế địa phương sang cơ cấu kinh tế vùng. Đổi mới chính sách quản lý chính quyền đô thị. Nghiên cứu theo hướng nhiệm vụ cấp nào thì cấp đó chịu trách nhiệm toàn bộ, không trùng lắp giữa cấp trên, cấp dưới, tránh đùn đẩy trách nhiệm. Không phải vì giao cho cấp dưới là giảm chức năng, quyền hạn cấp trên mà việc phân cấp, tăng tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm là bảo đảm tính chất Nhà nước pháp quyền XHCN, phù hợp đặc điểm kinh tế thị trường gắn với sự quản lý Nhà nước.

Chiến lược môi trường phải hoạch định 50 năm, 100 năm

Vấn đề môi trường gắn với phát triển bền vững là thông điệp được Bộ trưởng Bộ Tài nguyên Môi trường Phạm Khôi Nguyên nêu rõ tại Đại hội. Bộ trưởng cảnh báo: Vấn đề suy thoái môi trường gay gắt và biến đổi khí hậu đang tác động trực tiếp và mạnh mẽ đối với nước ta, tác động trực tiếp tới chính sách phát triển kinh tế – xã hội. Các điều kiện cơ bản, tạo thế và lực cho bảo vệ môi trường đã được củng cố, nhiều vấn đề môi trường bức xúc đã được giải quyết, xuất hiện những khu đô thị xanh, khu sinh thái nhưng chất lượng môi trường đang tiếp tục xấu đi, ô nhiễm môi trường nước, không khí, không chỉ khu công nghiệp, khai thác quặng mà cả ở nông thôn. Mưa bão, lũ lụt ngày càng nghiêm trọng, gây thiệt hại hàng chục tỷ đồng mỗi năm. “Thành quả xây dựng, phát triển trong nhiều năm có thể biến mất chỉ sau trận bão, lụt, nếu dự báo không tốt” – Bộ trưởng cho biết.

Theo Bộ trưởng, bảo vệ môi trường trong thời kỳ mới có ý nghĩa sống còn, cần giải pháp mang tính đột phá. Bộ trưởng đề xuất: cần cụ thể hóa nội dung chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng thân thiện với môi trường, kết hợp tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường, phát triển kinh tế xanh, đây là động lực để phát triển bền vững. Những bài học xây dựng nền kinh tế xanh của các nước trên thế giới rất cần để ta tham khảo, học tập. Tài nguyên thiên nhiên chỉ mang lại lợi ích to lớn khi ta khai thác phù hợp, khai thác gắn với bảo tồn. Theo đó, cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật hiện hành, ban hành Bộ luật bảo vệ môi trường mới, rộng, khả thi hơn. Xử lý nghiêm các vi phạm về môi trường, công bố kết quả thanh, kiểm tra vi phạm.

Nghị quyết Đại hội XI cần thể hiện rõ vấn đề môi trường. Theo đại biểu, về quy hoạch phải dự báo tới 50 năm, thậm chí 100 năm. Theo dự báo, nếu nước biển dâng 1m thì 40% diện tích ở ĐBSCL bị ngập, 10-12% dân số trên cả nước bị ảnh hưởng trực tiếp. “Do đó, song song chiến lược phát triển kinh tế – xã hội, cần xây dựng chiến lược ứng phó biến đổi khí hậu, nước biển dâng với tầm chiến lược, nhận thức rõ về an ninh môi trường, những mâu thuẫn phát sinh trong sử dụng tài nguyên” – Bộ trưởng Phạm Khôi Nguyên đề nghị.

Xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại

Trung tướng Ngô Xuân Lịch, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Bộ Quốc phòng trình bày ý kiến về vấn đề quốc phòng. Theo đại biểu, trong giai đoạn mới, bối cảnh quốc tế, khu vực có nhiều biến động, trong khi các thế lực thù địch tiếp tục chống phá với phương thức nguy hiểm, chúng ta cần nghiên cứu để có giải pháp phù hợp. Về phương hướng tăng cường, củng cố quốc phòng, đại biểu nhất trí cao phải xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân. Cần thực hiện có hiệu quả, quan tâm xây dựng thế trận lòng dân vững chắc.

Phát triển kinh tế, xã hội phải gắn với quốc phòng, sự kết hợp này phải thể hiện trong cả nước, kết hợp chặt chẽ giữa quốc phòng với an ninh, đối ngoại, tạo sức mạnh tổng hợp. Phát huy sức mạnh cả hệ thống chính trị, làm tốt công tác giáo dục quốc phòng, an ninh. Những năm qua, công tác giáo dục quốc phòng, bồi dưỡng cho cán bộ chủ chốt được tiến hành chủ động. Trung tướng cũng khẳng định, phải luôn lãnh đạo, chỉ đạo giáo dục Chủ nghĩa Mác – Lê nin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, bảo đảm trong toàn quân, cán bộ, chiến sĩ có lập trường tư tưởng vững vàng, kiên định.

Hiến kế những kinh nghiệm vượt thách thức

Trong phiên thảo luận buổi sáng tại đoàn, các đại biểu đã thảo luận về đánh giá tổng quát quá trình cách mạng Việt Nam; mục tiêu và những phương hướng cơ bản trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; định hướng về phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục và đào tạo, quốc phòng, an ninh; đánh giá những thành tựu và hạn chế, yếu kém, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm qua thực hiện Chiến lược 2001-2010 và kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội X của Đảng. Các đại biểu cũng cho ý kiến giải pháp phát triển, đổi mới giáo dục, đào tạo; phương hướng xây dựng Đảng về chính trị tư tưởng, rèn luyện phẩm chất, đạo đức, nâng cao chất lượng đảng viên, kiện toàn tổ chức cơ sở Đảng, về quy hoạch cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý các cấp và công tác cán bộ, công tác phát triển đảng viên…

Các ý kiến thảo luận đều bày tỏ sự nhất trí với chủ đề “Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại”. Các đại biểu cũng bày tỏ sự đồng tình với các nội dung trong các báo cáo được trình tại Đại hội XI; khẳng định những thành tựu to lớn về mọi mặt trong sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế – xã hội trong 10 năm qua (2001 – 2010) với tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt con số ấn tượng (đạt tốc độ bình quân 7,2%/năm); đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân không ngừng được nâng lên, các chính sách về an sinh xã hội được đảm bảo.

Theo ý kiến của nhiều đại biểu, trong Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 10 năm 2011 – 2020, cần phải đẩy mạnh hơn nữa việc kết hợp chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ xã hội; đi đôi với đó là việc củng cố quốc phòng, an ninh, đảm bảo trật tự an toàn xã hội nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ chiến lược là vừa xây dựng và phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, vừa thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Thảo luận về Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), các đại biểu đã tập trung đóng góp ý kiến vào các nội dung: Đánh giá tổng quát quá trình cách mạng Việt Nam (những thắng lợi vĩ đại; những yếu kém, khuyết điểm, khó khăn, thách thức; những bài học lớn); đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng; mục tiêu và những phương hướng cơ bản của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; những định hướng lớn về phát triển kinh tế; định hướng phát triển văn hóa- xã hội; những định hướng lớn về quốc phòng, an ninh và đối ngoại; định hướng xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa; xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; về Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân; công tác xây dựng Đảng…

Về chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2011-2020, các đại biểu đã tập trung thảo luận, đánh giá những thành tựu và hạn chế, yếu kém, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm trong 10 năm qua (2001-2010); góp ý vào mục tiêu chủ yếu và các chỉ tiêu phát triển kinh tế, xã hội, môi trường; các định hướng phát triển ngành, vùng, lĩnh vực; tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, phát huy quyền làm chủ của nhân dân; việc lựa chọn 3 khâu đột phá chiến lược…

Về Báo cáo chính trị Đại hội XI của Đảng, các đại biểu thảo luận những nội dung: Đánh giá những thành tựu, những hạn chế, khuyết điểm, nguyên nhân, trên các lĩnh vực trong thực hiện Nghị quyết Đại hội X của Đảng; đánh giá khái quát 10 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2001-2010; 20 năm thực hiện Cương lĩnh 1991; những phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ và các chỉ tiêu chủ yếu phát triển đất nước trong 5 năm tới; phương hướng đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu kinh tế; nâng cao chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh, phát triển nhanh, bền vững nền kinh tế nói chung, phương hướng phát triển các lĩnh vực công nghiệp và xây dựng nông – lâm – ngư nghiệp, các dịch vụ, hệ thống kết cấu hạ tầng, phát triển kinh tế – văn hóa – xã hội hài hòa giữa các vùng, đô thị và nông thôn…

Về Báo cáo một số vấn đề bổ sung, sửa đổi Điều lệ Đảng và dự thảo Điều lệ Đảng (bổ sung, sửa đổi), các đại biểu đã cho ý kiến xung quanh các nội dung như: các quan điểm chỉ đạo về bổ sung, sửa đổi Điều lệ Đảng; thảo luận các phương án đối với mỗi vấn đề cần đề nghị bổ sung, sửa đổi Điều lệ Đảng… Về Báo cáo kiểm điểm sự lãnh đạo, chỉ đạo Ban Chấp hành Trung ương khóa X, các đại biểu đã thảo luận các nội dung: Ưu, khuyết điểm của Ban Chấp hành Trung ương trong lãnh đạo triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội X và chuẩn bị Đại hội XI của Đảng; ưu, khuyết điểm của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư trong phương thức lãnh đạo, phong cách và lề lối làm việc.

Giám đốc Sở Nội vụ Hà Nội Nguyễn Thị Bích Ngọc cho rằng, cần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, cần có chính sách cụ thể, tạo điều kiện học tập, nâng cao trình độ, tạo nguồn nhân lực mới; có chính sách thu hút nhân tài, song song với đào tạo nguồn nhân lực mới. Đại biểu Hà Văn Hùng, Bí thư tỉnh Đoàn Hà Tĩnh đánh giá kết quả về giáo dục “sản phẩm của giáo dục nước ta đạt kết quả không cao”. Theo đại biểu, đây là vấn đề cấp bách, Đảng cần thực sự đổi mới phương thức giáo dục của Đảng về công tác chính trị, giáo dục truyền thống; công tác xây dựng nguồn nhân lực còn yếu, không theo kịp sự phát triển của đất nước. Đại biểu cũng cho rằng, công tác dạy nghề cần được phân tích sâu, để có cách thức hiệu quả vì hiện nay nhiều người học nghề xong nhưng vẫn không có việc làm.

Góp ý kiến vào nội dung quốc phòng – an ninh, các đại biểu khẳng định tăng cường quốc phòng, an ninh là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước và của toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân, Công an nhân dân là lực lượng nòng cốt. Thiếu tướng Phí Quốc Tuấn, Tư lệnh Bộ Tư lệnh quân khu Thủ đô nhấn mạnh: quan điểm về chính sách quốc phòng, an ninh bảo vệ Tổ quốc đã được nêu đầy đủ trong Báo cáo trình Đại hội. Trong đó đã thể hiện đầy đủ các nội dung với mục tiêu, nhiệm vụ, xác định tăng cường quốc phòng, bảo vệ an ninh là nhiệm vụ trọng yếu; xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh vững chắc.

Đại biểu Phí Quốc Tuấn đề nghị trong quan điểm xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại…, cần bổ sung ý “một số lực lượng sớm hiện đại”. Cùng với tăng cường công tác giáo dục quốc phòng – an ninh cần có chính sách thu hút nguồn nhân lực cao cho lực lượng vũ trang

Đ.Trường – Đ.Tuấn

Bài viết, video, hình ảnh đóng góp cho chuyên mục vui lòng gửi về banbientap@nguyenvanhuong.net

No comments yet... Be the first to leave a reply!